Cuốn sổ tay này được chuẩn bị để phục vụ các đại biểu tại WITFOR 2009 Hà Nội – Việt Nam từ ngày 26 đến 28 tháng Tám với chủ đề “CNTT vì sự phát triển bền vững”. Cuốn sổ tay cung cấp cho đại biểu cái nhìn tổng quan về IFIP, WITFOR, ngành CNTT của Việt Nam và nhiều thông tin hành chính cần thiết khác.
Thông tin chung về IFIP và WITFOR
Liên đoàn quốc tế về Khoa học Công nghệ Thông tin truyền thông (IFIP)
- Là tổ chức đa quốc gia, phi chính trị hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT).
- Dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức khác trên thế giới.
- Đại diện cho giới CNTT thuộc 56 quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới với số thành viên hơn nửa tỉ.
- Có hơn 3500 nhà khoa học từ các ngành và giới học thuật, thuộc 101 tổ chức đại diện cho 13 Ủy ban chuyên môn trên thế giới.
- Tài trợ cho 100 hội nghị hàng năm với các chủ đề từ CNTT mang tính lí thuyết cho tới những mối liên hệ giữa CNTT và đời sống bao gồm công nghệ phần cứng và phần mềm cùng các hệ thống mạng lưới thông tin.
Tổ chức IFIP
- Là nơi để các thành viên cộng đồng CNTT hội họp, chia sẻ kinh nghiệm cũng như thảo luận những khó khăn, thách thức cùng các cơ hội trong ngành.
- Đóng góp cho các ủy ban chuyên môn và các nhóm nghiên cứu cũng như luôn đi đầu trong cả lý thuyết và thực tiễn.
IFIP đi đầu trong giới khoa học và kĩ thuật
-Được thành viên Hội đồng khoa học bảo hộ, chủ yếu dựa vào những cá nhân xuất sắc.
-Đã tổ chức được 100 sự kiện quốc tế chất lượng và phát hành mới mỗi năm khoảng 30 cuốn sách trên toàn thế giới.
IFIP chính thức là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận bảo trợ cho các tổ chức quốc gia hoạt động trong ngành CNTT. IFIP được thành lập năm 1960 dưới sự bảo trợ của UNESCO, là kết quả của Hội nghị Máy tính Thế giới tổ chức tại Paris năm 1959.
WITFOR
Diễn đàn Công nghệ thông tin thế giới (gọi tắt là WITFOR) do IFIP sáng lập và tổ chức hai năm một lần bắt đầu từ năm 2003, là sự hợp tác với chính phủ nước chủ nhà và nhiều quốc gia liên quan, với mục tiêu tăng cường hợp tác, hỗ trợ các nước đang phát triển tăng cường ứng dụng CNTT trong các kĩnh vực kinh tế - xã hội,
WITFOR hỗ trợ thực hiện “Kế hoạch hành động” của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Xã hội thông (WSIS) và giúp các nước đang phát triển thực hiện Mục tiêu thiên niên kỉ của Liên hợp quốc. WITFOR thúc đẩy các chiến lược CNTT – TT thành công, bền vững ở các nước đang phát triển và là cơ hội thẩm định các sáng kiến, dự án về CNTT, ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mục tiêu của Diễn đàn WITFOR là:
-Khuyến khích việc thực hiện các sáng kiến phát triển CNTT & TT của các tổ chức, các bộ, ngành và các cơ quan trong lĩnh vực CNTT & TT
-Tạo cơ hội giao lưu, trao đổi giữa các nhóm đối tượng khác nhau nhằm đảm bảo sự quan trọng/cần thiết của việc ứng dụng CNTT vào mọi mặt của đời sống xã hội hiệu quả và bền vững đói với các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo chính phủ.
-Hỗ trợ về mặt tài chính cho các tổ chức quốc tế và các tổ chức từ thiện mở rộng ứng dụng CNTT & TT và các phương pháp tiếp cận thông tin.
-Chủ động ứng dụng các công nghệ mới nhằm giảm thiểu mâu thuẫn và áp lực tồn tại trong xã hội.
-Khuyến khích giới học thuật, các nhà phân tích, nhà nghiên cứu ứng dụng CNTT nhiều hơn trong lĩnh vực nghiên cứu.
-Từ những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Diễn đàn đã giúp cho các quốc gia đang phát triển tiếp cận, học hỏi, lắng nghe các công nghệ mới, áp dụng phù hợp đối với quốc gia của mình.
-Hỗ trợ hướng dẫn và tư vấn cho Cơ quan Chính phủ, các Bộ, ngành phát triển các chiên lược ứng dụng CNTT hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng CNTT & TT toàn cầu.
Các nội dung trên sẽ được thể hiện trong tám ủy ban chuyên môn diễn ra hai năm một lần và kết quả của việc làm này được thể hiện qua các chính sách, sáng kiến, kinh nghiệm triển khai CNTT thành công hiệu quả.
WITFOR là diễn đàn thường niên tổ chức 2 năm/lần. Lần đầu được tổ chức tại Lithuania năm 2003, lần thứ 2 được tổ chức tại Botswana năm 2005, và lần thứ 3 tổ chức tại Ethiopia năm 2007. WITFOR 2009 được tổ chức tại Việt Nam với sự góp mặt của gần 1500 đại biểu bao gồm Các Bộ trưởng ngành CNTT & TT, các nhà hoạch định chính sách cấp cao, giới học thuật, các tổ chức phi chính phủ cùng các cơ quan ngoại giao đoàn và chuyên gia ngành CNTT & TT và các tổ chức trong ngành CNTT & TT.
Đầu mối liên lạc
1.Thông tin chi tiết về nội dung - chương trình, liên hệ:
Kinh nghiệm của các quốc gia về xây dựng chính sách CNTT
Chủ đề:
Phần mềm
mã nguồn mở
10:30 - 11:00
Nghỉ giải lao/ Tham quan triển lãm
11:00 - 12:30
Phiên họp toàn thể 2:
bài phát biểu chính/diễn giả
Phiên họp toàn thể 4:
bài phát biểu chính/diễn giả /thảo luận
Phiên họp toàn thể 6:
bài phát biểu chính/diễn giả
Chủ đề:
Vai trò của Phụ nữ đối với sự phát triển của CNTT
Chủ đề:
Các khuyến nghị về Chính sách phát triển CNTT trong tương lai
Chủ đề:
Các đóng góp của doanh nghiệp trong ngành CNTT
12:30 - 14:00
Ăn trưa/ Thăm quan triển lãm
14:00 - 15:30
Phiên họp chuyên đề 1:
các Uỷ ban chuyên đề
Phiên họp chuyên đề 3::
các Uỷ ban chuyên đề
Phiên toàn thể 7:
bài phát biểu chính/ tổng kết
Các chương trình riêng cho 8 diễn đàn
Các chương trình riêng cho 8 diễn đàn
Chủ đề:
Mô hình Hợp tác Đối tác Nhà nước - Doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT
15:30 - 16:00
Nghỉ giải lao/ Thăm quan triển lãm
16:00 - 17:30
Phiên họp chuyên đề 2:
các Uỷ ban chuyên đề
Phiên họp chuyên đề 4:
các Uỷ ban chuyên đề
Các chương trình riêng cho 8 diễn đàn
Các chương trình riêng cho 8 diễn đàn
18:45
Gala Dinner
Các Ủy ban chuyên môn:
-Nông nghiệp
-Xây dựng cơ sở hạ tầng
-Cơ hội kinh tế
-Giáo dục
-Chính phủ điện tử
-Môi trường
-Y tế
-Xã hội, đạo đức và pháp lý
Các sự kiện bên lề:
-Triển lãm Công nghệ thông tin – Truyền thông
-Máy tính cho cuộc sống
-ICT Networking
-Công nghệ Thông tin – Đánh giá đa chiều
Phiên toàn thể
Diễn đàn sẽ có 07 phiên họp toàn thể. Với chủ đề chính xuyên suốt của Diễn đàn “Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững”, phiên toàn thể sẽ bao gồm báo cáo của các diễn giả nổi tiếng tới từ các tổ chức quốc tế như UNDP, UNESCO, các tổ chức quốc tế chuyên ngành như ITU, các báo cáo về hiện trạng và kinh nghiệm của các quốc gia tại đại diện các châu lục và khu vực trên thế giới.
Phiên 1: CNTT vì sự phát triển bền vững
Do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, gồm các nội dung chính như trong Kế hoạch thực hiện Phiên khai mạc (trình kèm).
Phiên 2: Vai trò của Phụ nữ đối với sự phát triển của CNTT
Do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì, gồm các nội dung chính như thực trạng phụ nữ trong lĩnh vực CNTT-TT trên thế giới và ở Việt Nam và đưa ra các khuyến nghị và giải pháp nhằm thúc dẩy sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực CNTT-TT.
Dự kiến tham gia Phiên toàn thể 2 có đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội đồng doanh nghiệp nữ Việt Nam và đại diện quốc tế.
Phiên 3: Kinh nghiệm của các quốc gia về xây dựng chính sách CNTT
Do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, gồm các bài phát biểu chia sẻ kinh nghiệm của một số quốc gia đã và đang phát triển về việc xây dựng chính sách CNTT. Dự kiến có các đại diện cấp Bộ trưởng đến từ Mông Cổ, Hàn Quốc, Elsalvador.
Phiên 4: Các khuyến nghị về Chính sách phát triển CNTT trong tương lai
Do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, gồm các bài phát biểu đề xuất chính sách phát triển CNTT vì mục tiêu phát triển bền vững. Dự kiến có các diễn giả đến từ Etiopia và các tổ chức quốc tế như UNESCO, ITU...
Phiên 5: Phần mềm mã nguồn mở (PMNM)
Do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, gồm các nội dung chính về Việt Nam trên con đường PMNM, PMNM với các nước đang phát triển, hợp tác quốc tế trong phát triển PMNM và thảo luận. Dự kiến có các khách mời là đại diện UN-GAID và Liên minh Asianux.
Phiên 6: Các đóng góp của doanh nghiệp trong ngành CNTT
Do Hội Tin học Việt Nam (VAIP) chủ trì, gồm các nội dung chính về chia sẻ đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế trong ngành. Dự kiến diễn giả phía Việt Nam có Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Tổng công ty viễn thông quân đội.
Phiên 7: Mô hình Hợp tác Đối tác Nhà nước - Doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT
Cũng là phiên bế mạc của WITFOR Việt Nam 2009, phiên 7 do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, nội dung chính là các kết luận của Diễn đàn và giới thiệu nước tiếp theo đăng cai WITFOR 2011.
Ủy ban chuyên môn
Cùng với các phiên họp toàn thể, sẽ có 32 phiên họp chuyên đề của 08 Uỷ ban (UB) chuyên môn. Các Ủy ban chuyên môn sẽ đi sâu vào thảo luận các vấn đề về kỹ thuật, nội dung ứng dụng CNTT liên quan tới 08 chuyên đề cụ thể như sau:
Nôngnghiệp
UB Nông nghiệp do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Áp dụng CNTT để phổ biến kiến thức và thông tin cho người nông dân.
·Ứng dụng CNTT để cải thiện chất lượng nông sản, an toàn vệ sinh thực phẩm, cuộc sống người dân và công tác quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ tương lai.
·Thu hẹp khoảng cách giữa các nước có trình độ CNTT phát triển và các nước nông nghiệp, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu thiết yếu của con người về thực phẩm và môi trường sống thông qua các kênh đầu tư có hiệu quả vào thông tin, truyền thông, tri thức và CNTT.
Xây dựng cơ sở hạ tầng
UB Xây dựng cơ sở hạ tầng do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Hỗ trợ tạo môi trường cạnh tranh cho phép đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngành CNTT-TT
·Cung cấp và đẩy mạnh chất lượng hạ tầng về kết nối (truyền thông), thuận tiện cho việc kết nối Internet tại các điểm công cộng (như trường học, thư viện, bưu điện…)
·Phát triển, đẩy mạnh cơ sở hạ tầng băng thông rộng trong phạm vi quốc gia, khu vực và thế giới
·Cung cấp và cải thiện cơ sở dữ liệu về thông tin, kiến thức được lưu trữ và truy cập trong mạng lưới các hệ thống thông tin.
Cơ hội kinh tế
Ủy ban về Cơ hội kinh tế do Bộ Công thương chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Tác động của chính sách và cơ chế quản lý nhà nước về CNTT tới sự phát triển kinh tế
·Đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới các doanh nghiệp CNTT
·Thương mại điện tử - xu hướng ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam
·Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế thông qua ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Giáo dục
Ủy ban về Giáo dục do Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì, với mục tiêu kiểm tra phương pháp ứng dụng CNTT thúc đẩy khả năng truy cập, tính công bằng, chất lượng và cắt giảm chi phí trong giáo dục, gồm các nội dung chính:
·Giáo dục cho mọi người
·Đào tạo mở và đào tạo từ xa
·Các nguồn giáo dục mở
·CNTT – thúc đẩy công tác giáo dục ở Việt Nam và Đông Nam Á.
Chính phủ điện tử
Ủy ban về Chính phủ điện tử doBộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Đối tác công – tư trong bối cảnh triển khai Chính phủ điện tử
·Thúc đẩy cơ sở hạ tầng, xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và mù tin học cho người dân nhằm nâng cao ứng dụng của Chính phủ điện tử
·Các phương pháp xây dựng năng lực của Chính phủ điện tử
·Các giải pháp nguồn mở trong chính phủ điện tử
·Các vấn đề an ninh quốc gia mới xuất hiện
Môi trường
Ủy ban về Môi trường doBộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Cơ sở hạ tầng CNTT về môi trường rất cần thiết để thúc đẩy các chính phủ, các cơ quan và cá nhân thông báo kịp thời (và được thông báo) về tình trạng môi trường và cảnh báo về các tình trạng môi trường khẩn cấp đang đe dọa .
·Hỗ trợ những mục tiêu tổng thể của việc sử dụng và thúc đẩy phát triển CNTT vì sự phát triển môi trường bền vững, bằng cách kiểm tra, xác định và giúp đỡ để giải quyết các vấn đề môi trường đang phổ biến ở Châu Phi, và thực tế là cho toàn thế giới.
Y tế
Ủy ban về Y tế doBộ Y tế chủ trì, gồm các nội dung chính:
·Sử dụng ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả và tính công bằng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe
·Tăng cường hệ thống thông tin y tế trong một thế giới đang phát triển bằng cách xây dựng mạng lưới hợp tác để chia sẻ kinh nghiệm, thực tiễn, tri thức và sản phẩm giữa các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển.
·Thúc đẩy các tiêu chuẩn mở và thực hiện nghiên cứu về các hệ thống thông tin và ứng dụng của phần mềm mở và miễn phí và phần mềm độc quyền trong ngành y tế.
·Cải thiện quá trình giao tiếp giữa các nhân viên y tế.
Xã hội, đạo đức và các vấn đề pháp lý
UB chuyên môn về xã hội, đạo đức và các vấn đề pháp lý do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì gồm các nội dung chính:
·Công nghệ và an ninh con người. An ninh con người được xem là một chủ đề bao quát một loạt các vấn đề từ sự phát triển tới viện trợ nhân đạo và an ninh vật lý, bảo mật dữ liệu. Một chủ đề được giải quyết là sinh trắc học.
·Các phương thức công nghệ để bảo vệ sự riêng tư (các công nghệ nâng cao tính bảo mật). Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các phương thức công nghệ mới để bảo vệ dữ liệu cá nhân (các quy tắc bảo vệ dữ liệu).
·Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Luật sở hữu trí tuệ sẽ được đặt trong một bối cảnh rộng lớn như một yếu tố tác động đến phát triển CNTT, TRIPS và mã nguồn mở.
·Các đặc trưng văn hóa của quy định công nghệ
Các sự kiện bên lề
Bên cạnh các nội dung chính là 07 phiên toàn thể và 08 Ủy ban chuyên môn, WITFOR 2009 còn bao gồm các sự kiện bên lề cùng chủ đề “Công nghệ Thông tin vì sự phát triển bền vững”, bao gồm:
Triển lãm quốc tế về Công nghệ thông tin và Truyền thông
Triển lãm quốc tế về CNTT và TT trong WITFOR 2009 sẽ diễn ra tại Hà Nội, Việt Nam trong suốt thời gian diễn ra WITFOR từ 26 – 28/8 tại Trung tâm hội nghị quốc gia với tổng diện tích chiếm hơn 2000 m2.
Triển lãm này sẽ là một cơ hội tốt cho những người yêu thích công nghệ cao trên thế giới đến tham quan và khám phá công nghệ hiện đại của các công ty, tập đoàn nổi tiếng trong khu vực châu Á cũng như trên thế giới, như Microsoft, Huawei, Intel, IBM, Oracle… Sự kiện này cũng là cơ hội cho các học giả, doanh nhân trong nước và các tập đoàn quốc tế để trao đổi suy nghĩ, kinh nghiệm và ứng dụng CNTT-TT có liên quan đến lĩnh vực đa dạng, cũng như đạt được hợp tác thương mại trong tương lai.
Dự kiến sẽ có hơn 100 doanh nghiệp tham gia triển lãm trong sự kiện này.
ICT Networking
ICTnetworking là một trong nội dung hoạt động quan trọng tại WITFOR 2009, nhằm xây dựng mạng lưới kết nối các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo của Việt Nam với thế giới. Đặc biệt, hoạt động này giúp các doanh nghiệp tham gia trong mạng lưới có cơ hội trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh. Hoạt động này gồm 2 phần chính: Business Matching Online và Business Matching Onsite.
Với Business Matching Online, được dự chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, Hiệp Hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) đã thiết kế và phát triển website www.ictnetworking.vn để thực hiện hoạt động quan trọng này. Với mỗi ID và pass word được cung cấp, người dùng có thể đăng tải thông tin, chia sẻ profile doanh nghiệp mình, tìm kiếm các sự kiện quan tâm, đặc biệt là đặt lịch cho các cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp mà mình quan tâm.
Hoạt động Business Matching Onsite được tổ chức ngay tại khu vực diễn ra sự kiện WITFOR tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. VINASA sẽ sắp xếp và điều phối các lịch gặp gỡ giữa từng doanh nghiệp dựa trên các lịch đăng ký gặp gỡ của các doanh nghiệp trên trang www.ictnetworking.vn Tại đây các doanh nghiệp có thể trao đối trực tiếp với các doanh nghiệp mà mình quan tâm để tìm kiếm cơ hội hợp tác.
ICT Industry Dialogue with Government of Viet Nam
Nằm trong khuôn khổ các hoạt động bên lề của Diễn đàn Công nghệ Thông tin Thế giới WITFOR 2009, chương trình giao lưu: “High Level ICT public-private dialogue” là cuộc đối thoại giữa quan chức chính phủ Việt nam cùng nhiều tập đoàn công nghệ thông tin trên thế giới với sinh viên, doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế. Chương trình sẽ tạo dấu ấn quan trọng, có tác động và thu hút đông đảo những người quan tâm đến sự phát triển của ICT Việt Nam nói riêng và của ngành công nghiệp ICT thế giới nói chung.
Chương trình giao lưu dự kiến sẽ được chia thành 03 phiên thảo luận chính, tập trung vào những vấn đề thời sự trong lĩnh vực ICT, những thành tựu đóng góp cũng như những cơ hội kinh doanh và tiềm năng của ngành kinh tế quan trọng này của Việt nam. Sự tham gia của quan chức hàng đầu phụ trách lĩnh vực CNTT của Việt Nam, cùng đại diện của các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực ICT cũng như sức trẻ đầy nhiệt huyết của sinh viên CNTT, doanh nghiệp SME sẽ hứa hẹn một buổi giao lưu thú vị.
Thông qua buổi giao lưu này, ngành công nghiệp ICT một lần nữa có cơ hội giới thiệu sự phát triển nhanh chóng cũng như những thành tựu đạt được của ngành công nghệ thông tin Việt Nam trong những thời gian qua đồng thời là sự kiện quảng bá hiệu quả cho những cơ hội hợp tác kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam đến bạn bè thế giới.
Chương trình có quy mô lên đến 1500 người, được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia truyền hình trực tiếp trên sóng VTV – Đài truyền hình Việt Nam vào lúc 16h ngày 26 tháng 8 năm 2009.
Máy tính cho cuộc sống
Theo tinh thần của WITFOR 2009, Ban Tổ chức quốc gia phát động sang kiến thành lập một quỹ máy tính cá nhân dành tặng cho người dân ở các vùng nông thôn, đặc biệt là trẻ em, với các thiết bị để nâng cao khả năng học tập và nhận thức, đóng góp một phần vào việc hoàn thành các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và triển khai “Kế hoạch hành động” của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Xã hội thông tin.
Không chỉ tập trung vào việc tặng máy tính cho người dân, chương trình này cũng dành tặng các chương trình giảng dạy và phần mềm giáo dục để giúp nâng cấp kiến thức cho trẻ em một cách thuận tiện & hiệu quả. Trẻ em ở vùng sâu, vùng xa tham gia vào chương trình này có thể học tập ở nhà mà không cần đến trường, qua đó thực hiện được mục tiêu “Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững”.
Thông tin chung về ngành Công nghệ thông tin và Viễn thông Việt Nam
Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về kinh tế xã hội, ngành Công nghệ thông tin (CNTT) và Viễn thông Việt Nam cũng đã có những bước tiến đáng kể trong việc tăng cường năng lực, tiếp tục quá trình hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo an ninh quốc phòng và phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, thế giới đang dần chuyển mình sang kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức, vì thế CNTT và viễn thông chính là một công cụ hữu hiệu trong việc phát triển tất cả các quốc gia. Người dân cũng đang dần nhận thức được tầm quan trọng của CNTT và viễn thông trong việc phát triển bền vững của một xã hội, quốc gia, cộng đồng, doanh nghiệp và cuộc sống hàng ngày.
Ý thức được tầm quan trọng của CNTT và viễn thông, Chỉ thị số 58/CT ngày 17/12/2000 của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định “Công nghệ thông tin và viễn thông là một trong những động lực phát triển quan trọng nhất”. Chính phủ Việt Nam đã nhận ra và quyết tâm thúc đẩy ngành CNTT và viễn thông, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất phần mềm, hạ tầng Internet, tăng cường giáo dục về CNTT và các hình thức phát triển nguồn nhân lực khác. CNTTvà viễn thông Việt Nam đang ngày càng phát triển rộng khắp. “Chiến lược phát triển CNTT và Viễn thông” lần đầu tiên đã được Thủ tướng Phan Văn Khải thông qua vào năm 2004, trong đó nhấn mạnh mục tiêu tốc độ phát triển mỗi năm của ngành CNTT và Viễn thông Việt Nam sẽ đạt 25%-30% đến năm 2010, kế hoạch đến năm 2020 đã được ký vào ngày 06/10/2005.
Ngành CNTT Việt Nam đã chính thức ra đời kể từ những năm cuối của thập kỷ 90 và đã chứng tỏ đây là ngành phát triển mạnh nhất. CNTT đã được ứng dụng trong các lĩnh vực: ngân hàng, thống kê, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, bưu chính, viễn thông, thăm dò dầu khí, xây dựng, hàng không, … Khoảng 50% doanh nghiệp đã sử dụng CNTT trong kinh doanh, quản lý sản xuất và dịch vụ. Trên 30% doanh nghiệp đã kết nối Internet, 10% doanh nghiệp có website riêng phục vụ cho việc kinh doanh, marketing trong và ngoài nước. Các ứng dụng CNTT đã được triển khai cả về chiều rộng và chiều sâu.
Về ứng dụng CNTT trong chính phủ, có khoảng 50% các bộ, cơ quan chính phủ và trên 80% các tỉnh, thành phố đã có website. Báo điện tử, các trang web cùng với dịch vụ IPTV đã đóng góp một phần đáng kể trong các công tác cộng đồng, đặc biệt trong việc cung cấp thông tin ra bên ngoài. Lĩnh vực CNTT và Viễn thông không chỉ đóng góp vào việc phát huy chất lượng làm việc của các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và cuộc sống hàng ngày của người dân mà còn là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Doanh thu từ lĩnh vực CNTT và Viễn thông theo ước tính đạt khoảng 7.1 tỉ Đô la Mỹ trong năm 2007, đóng góp 10% vào GDP.
Mức tăng trưởng của ngành CNTT và VT Việt Nam vẫn tiếp tục được giữ vững kể từ kế hoạch 5 năm lần đầu tiên (2001-2006). Mặc dù thị trường CNTT và VT Việt Nam không thể giữ vững mức tăng trưởng năm 2004 (33%), nhưng tỉ lệ tăng trưởng vẫn đạt 20.9% năm 2005, so với mức 9% trong khu vực châu Á và 7,1% trên thế giới. Tỉ lệ tăng trưởng của dịch vụ phần mềm và thị trường phần cứng lần lượt là 41,4% và 15,6% - trong đó, tổng giá trị trên thị trường là 828 triệu Đô la Mỹ năm 2005. Tỉ lệ tăng trưởng năm 2006 và 2007 lần lượt là 44% và 38%, giá trị thị trường là 360 triệu Đô la Mỹ và 498 triệu Đô la Mỹ.
Năm 2005 là năm đầu tiên ngành CNTT và Viễn thông Việt Nam đạt doanh thu xuất nhập khẩu trên mức 1 tỉ Đô la Mỹ - trong đó chủ yếu do các công ty 100% vốn nước ngoài đóng góp. Ngành CNTT và Viễn thông tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao - 49,6% năm 2005, trong đó giá trị xuất khẩu gia công phần mềm đã lên đến 55%, đạt 70 triệu Đô la Mỹ và tổng giá trị ngành dịch vụ phần mềm đạt 250 triệu Đô la Mỹ. Lĩnh vực phần mềm tiếp tục phát triển trong khoảng từ 30% đến 40% trong vòng 6 năm (2002-2007), giảm dần từ năm 2008 với tỉ lệ dưới 20%. Tổng doanh thu của lĩnh vực phần mềm đạt 500 triệu Đô la Mỹ trong năm 2007 và 1/3 từ các hoạt động gia công.
Hiện tại, có khoảng 4,000 công ty hoạt động trong lĩnh vực CNTT và Viễn thông với gần 300,000 nhân viên đang hoạt động trong ngành này tại Việt Nam. Số lượng các công ty phần mềm ước tính khoảng 800, với số nhân công trên 45,000 người. Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm đều ở qui mô nhỏ, chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp có từ 100 đến 500 nhân viên. Về các chứng nhận chất lượng, có khoảng 20 doanh nghiệp nhận được các chứng nhận quản lý chất lượng quốc tế như CMMI-5, CMM-4, CMM-3, và khoảng 40 doanh nghiệp đã được chứng nhận ISO 9001 và ISO 27001.
Với ngành CNTT và VT Việt Nam, nguồn lao động rẻ, năng động, ham học hỏi và sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ trong việc phát triển CNTT và Viễn thông là những thế mạnh cơ bản. Bằng các chính sách mới nhằm thúc đẩy CNTT và Viễn thông trong các Trường đại học và cơ sở đào tạo, thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNTT và VT và tạo ra một khung pháp luật cho kinh doanh điện tử, chính phủ Việt nam đã chuẩn bị kỹ càng cho sự phát triển của CNTT và VT trong tương lai. Nhờ đó, lực lượng lao động về CNTT sẽ đạt được những yêu cầu nhân lực của các công ty CNTT cả về chất và lượng. Các quy định hợp lý về thương mại điện tử cũng sẽ là một nhân tố để tăng cường đầu tư kinh doanh.
Mặc dù Việt Nam đã nghiên cứu và thiết kế một số thiết bị thay thế và phụ kiện điện tử cho xuất khẩu, song ngành công nghiệp phần cứng vẫn chủ yếu là làm gia công. Dự án 1 tỉ Đô la Mỹ của Intel năm 2006 có thể coi là khoản đầu tư nước ngoài lớn nhất trong ngành CNTT Việt Nam từ trước tới nay. Thêm vào đó, đã có rất nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới trong lĩnh vực này như Canon, Fujitsu, Sony, NEC cũng đóng góp một phần quan trọng trong doanh thu xuất khẩu phần cứng.
Về thuế áp cho ngành CNTT và VT, thuế nhập khẩu các linh kiện phần cứng đang giảm dần, từ 0-10% (hiện tại) xuống 0% đến năm 2012. Điều đó có nghĩa là, các sản phẩm phần cứng và dịch vụ sẽ được áp một thuế suất xuất khẩu là 0% và được miễn thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty CNTT mới thành lập thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác (10% trong 15 năm kể từ năm đầu tiên có lợi nhuận, so với 25% dành cho các doanh nghiệp khác).
Trên bản đồ CNTT thế giới, Việt nam sẽ có một tương lai sáng lạn hơn khi có những bước tiến trong xếp hạng. Liên minh Viễn thông Quốc tế đã thông báo danh sách xếp hạng chỉ số CNTT và VT toàn cầu giai đoạn 2002-2007 dựa trên các chỉ số toàn cầu như điện thoại cố định, điện thoại di động, dải tần số rộng, tỉ lệ sử dụng máy tính và tỉ lệ sử dụng Internet. Trong danh sách xếp hạng đó, Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng CNTT và VT nhanh nhất. Việt Nam đã tiến thêm 15 bậc so với danh sách năm 2002 và hiện tại đang đứng thứ 92/154 quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức được đặt ra với ngành CNTT Việt Nam trong thế giới CNTT do có những sự ràng buộc với sự phát triển kinh tế quốc dân và chất lượng tăng trưởng.
Nguồn nhân lực ngành CNTT
Với khoảng hơn 15,000 kỹ sư tốt nghiệp các trường đại học mỗi năm, và khoảng 10,000 sinh viên cao đẳng, nguồn nhân lực CNTT luôn đảm bảo về số lượng, song vẫn cần được nâng cao hơn về chất lượng giảng dạy CNTT, đặc biệt ở bậc đại học. Trên thực tế, có rất nhiều ứng viên CNTT mà các nhà quản lý của các công ty CNTT có thể tuyển dụng, nhưng chất lượng các ứng viên về ngôn ngữ (tiếng Anh), kĩ năng làm việc nhóm và phong cách làm việc chuyên nghiệp vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm.
Các chuyên gia CNTT luôn được nằm trong danh sách “săn đầu người”, vì vậy, lương của các chuyên gia này cao hơn so với các chuyên gia ngành khác, khoảng 250-300 Đô la Mỹ cho người mới làm việc, 400-500 Đô la Mỹ cho người ở mức trung và 550-900 USD cho người ở chuyên gia cao cấp.
Thông qua những chính sách khuyến khích thành lập các trường đại học, cao đẳng,học viện đào tạo CNTT của chính phủ Việt Nam, hiện đã có hơn 400 trường đại học, cao đẳng đào tạo CNTT. Nhằm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo CNTT, các trung tâm CNTT đang dần dần ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện các kĩ năng tiếng Anh cho sinh viên và sự cần thiết trong việc cải cách chương trình đào tạo đảm bảo đầu ra là những sinh viên có chất lượng.
Có thể thấy rằng, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững thông qua các ứng dụng CNTT ngày càng nhiều trong đời sống hàng ngày, trong hoạt động doanh nghiệp, trong điều hành chính phủ; thêm vào đó, yêu cầu của thị trường gia công CNTT và của các nhà đầu từ nước ngoài ngày càng khắt khe hơn, tuy nhiên mặt bằng chung về đào tạo CNTT của Việt Nam còn nhiều bất cập. Việt Nam cần có những thay đổi cơ bản để đáp ứng những yêu cầu chuyên nghiệp cả trong nước và quốc tế.
Cơ sở hạ tầng
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc phát triển mạng lưới viễn thông và Internet. Sự phát triển này được thể hiện qua tốc độ bao phủ ngày càng rộng của các mạng viễn thông, sự gia tăng mạnh mẽ số lượng thuê bao di động, cố định và Internet.
Internet băng thông rộng đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây đặc biệt là từ năm 2006 với sự bùng nổ của Internet băng thông rộng ADSL. Tính đến tháng 8/2008, lưu lượng Internet quốc tế đạt 40,100Mbps và đã tăng lên 55,902 Mbps vào tháng 3 năm 2009. Băng thông đáp ứng được yêu cầu của các dịch vụ mới như trò chơi điện tử, xem phim trực tuyến.
Chi phí lắp đặt và thuê bao hàng tháng đã giảm đáng kể do có sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Chi phí lắp đặt là 25 Đô la Mỹ, thuê bao hàng tháng dao động từ 22 đến 28 Đô la Mỹ, đơn giá cho mỗi Mbyte từ 0.25-0.28 cent. Trong các nhà cung cấp dịch vụ Internet, VNPT chiếm thị phần lớn nhất, theo sau là FPT, Viettel và các nhà cung cấp khác như EVN Telecom, SPT, NETnam.
Từ năm 2003 đến tháng 5 năm 2008, tỷ lệ người sử dụng Internet trên tổng dân số tăng đáng kể từ 3.3% lên 23.5% tương đương với 3.1 triệu người và 19.8 triệu người. Số lượng thuê bao Internet trong năm 2009 gấp đôi so với năm 2006.
Phần cứng và Hỗ trợ kỹ thuật
Ngành công nghiệp phần cứng đã vượt ngưỡng 2,9 tỷ Đô la Mỹ (USD) năm 2007, trong đó 2,178 tỷ USD thuộc kim ngạch xuất khẩu điện tử, máy tính và khoảng 800 triệu USD từ thị trường nội địa. Đóng góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu là các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Năm 2005 và 2006 chứng kiến nhiều dự án đầu tư của các công ty đa quốc gia vào lĩnh vực phần cứng tại Việt Nam như dự án trị giá 300 triệu USD của Intel nhằm xây dựng phòng lắp ráp và kiểm tra chất liệu bán dẫn tại thành phố Hồ Chí Minh và dự án trị giá 110 triệu USD của Canon nhằm xây dựng nhà máy in phun lớn nhất thế giới tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là các sản phẩm ICT xuất khẩu đều được lắp ráp từ các linh kiện nhập khẩu thay thế. 90% các sản phẩm được lắp ráp bởi các công ty tại Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương ở phía Nam.
Do số lượng người sử dụng ứng dụng CNTT tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây nên việc hỗ trợ kĩ thuật là dịch vụ tối cần thiết và các dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật mọc lên như nấm. Đó có thể là dịch vụ CNTT của các công ty hoặc một bộ phận của nhà cung cấp phần cứng hay bệnh viện máy tính cung cấp dịch vụ 24/7 hoặc các cửa hàng sửa chữa, cung cấp khá tiện lợi. Nhìn chung, hỗ trợ kĩ thuật được khách hàng hưởng ứng và có ở khắp các thành phố lớn trong cả nước. Theo một nghiên cứu tại một số nhà cung cấp phần cứng, giá cả của cá sản phẩm phần cứng khác nhau tùy thuộc vào các tính năng kĩ thuật và thương hiệu, ví dụ giá cho một PC của thương hiệu nổi tiếng dao động từ 650 đến 1370 USD so với 200 USD của hãng ít tiếng tăm hơn, một máy chủ HP có giá từ 1680-2940 USD
Những khu vực tiềm năng
Như đã đề cập ở trên, nguồn nhân lực có lợi thế cạnh tranh về giá, năng động và say mê học hỏi là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất. Với dân số đông và giàu tiềm năng, Việt Nam tự tin là điểm đến lí tưởng cạnh tranh của ngành công nghệ phần mềm so với Trung Quốc và Ấn Độ. Đây cũng là lĩnh vực mà Việt Nam có thể tự phát triển mà không cần đến sự hỗ trợ của bất kì ngành công nghiệp nào (ví dụ: kĩ thuật cơ khí)
Một đất nước đông dân số trẻ như Việt Nam có lợi thế rất lớn trong việc lắp ráp phần cứng.
Hơn nữa, các chuyên gia IT của Việt Nam có khả năng tuỳ biến, hay thậm chí phát triển nhiều ứng dụng phần mềm trong quản lí, kế toán, thiết kế, game.
Các cơ hội cho thị trường trong nước
Là một đất nước châu Á với dân số trẻ và nền kinh tế phát triển nhanh, dịch vụ phần mềm và nền công nghiệp nội dung số bao gồm thiết bị điện thoại di động, báo điện tử, dữ liệu trực tuyến và trò chơi trực tuyến được dự báo là những lĩnh vực đang phát triển nhất.
Là thành viên của WTO từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam mong đợi sẽ thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và và cơ sở hạ tầng công nghệ nói riêng. Nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hơn cũng có nghĩa là nhiều tiềm năng hơn cho thị trương ICT.
Hơn nữa, với những chính sách cải cách mạnh mẽ của chính phủ, tất cả các doanh nghiệp nhà nước hay cơ quan chính phủ đều áp dụng công nghệ thông tin trong quản lí để tăng hiệu quả. Điều này tạo ra nhiều cơ hội hơn cho ICT Việt Nam.
Những mối đe dọa của thị trường
Vi phạm bản quyền được coi như là mối đe dọa lớn đối với ICT Việt Nam. Tuân thủ nghiêm ngặt luật sở hữu trí tuệ là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam. Do đó không còn khái niệm “rẻ và miễn phí” cho các sản phẩm/dịch vụ phần mềm.
Việc chảy máu chất xám, từ các doanh nghiệp IT trong nước sang các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do thu nhập cao hơn và có cơ hội đào tạo là khó tránh khỏi.
Hơn nữa, một số công ty nhỏ cũng có thể bị phá sản do quản lí không hiệu quả và không bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.